LỊCH SỬ TOÀ DINH THỰ HỌ VƯƠNG NGƯỜI H’MÔNG TẠI XÃ SÀ PHÌN HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG
Toà dinh thự do ông Vương Chính Đức (người H’Mông gọi là Vàng Dúng Lùng) khởi công xây dựng năm 1898 và hoàn thành năm 1903.
Vương Chính Đức sinh ngày 12/8/1867 mất năm 1947 tại xã Sà Phìn.
Gia đình Vương Chính Đức rất nghèo, thiên di từ Quý Châu – Trung Quốc đến mảnh đất Đồng Văn này vào những năm giữa thế kỷ thứ 18, khi lớn lên Vương Chính Đức phải lang thang nay đây mai đó để kiếm kế sinh nhai. Sau đó đã tham gia vào một tổ chức có tên gọi là “hươu nai” của người H’Mông để chống lại quân cờ đen (khi đó đây là vùng đất do quân Cờ Đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc cai quản).
Trong quá trình đấu tranh chống quân Cờ Đen, Vương Chính Đức đã được người H’Mông suy tôn làm thủ lĩnh cai quản mảnh đất Đồng Văn này.
Để xây dựng toà dinh thự, năm 1890 Vương Chính Đức đã mời thầy địa lý người Hán tên là Trương Chiếu ở xã Phố Là, huyện Đồng Văn đi tìm địa điểm.
Sau thời gian dài đi khắp mảnh đất Đồng Văn để tìm địa điểm, cuối cùng Trương Chiếu đã chọn vùng đất Sà Phin với lời giải thích như sau:
- Giữa thung lũng Sà Phìn nổi lên một quả đồi hình con rùa, xung quanh là những núi cao bao bọc, xây nhà trên Iưng con rùa thì sẽ giàu sang, phú quý suốt đời.
- Sau Iưng con rùa là dãy núi hình ghế tựa; có đất để chân co, chân duỗi.
- Bên phải có núi cao trọc trời: Con cháu sẽ đời đời vang danh.
- Bên trái có núi cao ngang trời: Con cháu sẽ luôn ấm no.
- Đằng trước quả đồi có hai ngọn núi:
– Bên trái tượng trưng cho quan văn.
– Bên phải tượng trưng cho quan võ.
Phía sau hai quả núi này là những dãy núi chắn ngang tựa như rồng bay phượng múa.
Cuối cùng ông Trương Chiếu kết luận: Đây là vùng đất của bậc anh kiệt và cần phải xây toà dinh thự tại đây.
Sau khi thầy địa lý đã chọn đất, Vương Chính Đức giao cho cụ Nguyễn Hoàng người kinh ở Nam Định là mưu sĩ của mình và ông Cử Chủng Lù người H’Mông ở Lầu Trá Tủng, xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn – Người phụ trách đội quân người H’Mông của Vương Chính Đức, nghiên cứu phác hoạ một toà nhà ở vùng đất này.
Để thực hiện việc xây dựng, Vương Chính Đức đã thuê Tống Bách Giao là người Hán ở huyện Tây Thọ, tỉnh Vân Nam – Trung Quốc thầu thiết kế và thi công, Tống Bách Giao lấy người Hồi ở huyện Tuyên Uy, tỉnh Vân Nam – Trung Quốc thiết kế và thi công. Nhân công là người H’Mông.
Tổng kinh phí xây dựng toà dinh thự này hết khoảng: 15.000 (Mười lăm nghìn) đồng bạc xòe.
VỀ KIẾN TRÚC TOÀ DINH THỰ
Toà dinh thự họ Vương là sự kết hợp của 3 nền văn hoá: H Mông, Trung Quốc và Pháp.
- Văn hoá của người H’Mông:
– Kỹ thuật xếp đá làm bức tường đá bao quanh toà dinh thự.
– Kỹ thuật trình tường nhà bằng đất sét.
– Kỹ thuật làm ngói âm dương.
– Hình tượng quả thuốc phiện (anh túc) làm đá kè chân cột nhà, trạm khắc gỗ hình hoa đào, lê, mận…
- Văn hoá Trung Quốc:
Toà dinh thự mang đậm nét kiến trúc tứ hợp viện của Trung Quốc.
– Đi từ thấp lên cao qua tiền dinh, trung dinh rồi tới hậu dinh.
– Nhà gỗ 2 tầng với 64 phòng liền thông.
– Mái nhà lợp ngói âm dương, nóc nhà và các đầu hồi có các hình uốn lượn.
– Trong nhà có các sân theo luật phong thuỷ.
- Văn hoá Pháp:
– Một số phòng có lò sưởi theo kiểu kiến trúc của Pháp.
– Có hai lô cốt tại khu vực hậu dinh.
– Bức tường đá bảo vệ dinh có 36 lỗ châu mai.
– Cửa sổ có 3 lớp: Ngoài cùng là gỗ,giữa là lớp chấn song bằng sắt, trong cùng là cửa kính.
– Vật liệu sắt, kính được chở từ pháp sang.
BỐ TRÍ TRONG TÒA DINH THỰ
Toà dinh thự họ Vương được chia làm 3 phần theo hướng từ cổng đi vào, chúng ta sẽ thấy:
I. TIỀN DINH:
Trước cửa tiền dinh có hai câu đối:
– Bên phải: Gia tích thiện hiền nhân xuất nhập
– Bên trái: Môn phong lưu quý khách vãng lai
Riêng câu đối bên trái này nguyên bản của nó là: môn trọng nghĩa hào kiệt vãng lai nhưng đã bị Pháp bắt phải sửa lại vì lo sợ Vương Chính Đức chiêu hiền nạp sĩ để chống lại Pháp.
Trong tiền dinh có tấm biển sơn son thiếp vàng với dòng chữ hán “BIÊN CHÍNH KHẢ PHONG” được Triều Nguyễn năm 1923 mang từ Huế ra gắn cho toà dinh thự của Vương Chính Đức, cùng thẻ bài ngà voi, mũ cánh chuồn và áo quan, tấn phong cho ông làm quan của triều đình.
- Bên phải:
– Tầng 1: Nơi ăn, ở của các thủ lĩnh.
– Tầng 2: Văn phòng của Vương Chính Đức và nơi ăn, ở của cụ Nguyễn Hoàng.
- Bên trái:
– Tầng 1: Là phòng khách, phòng ở của Tổng quản (người giúp việc Vương Chính Đức)
– Tầng 2: Gần như toàn bộ là nơi ăn, ở của các vệ sĩ bảo vệ ông Đức và toà dinh thự.
- Nhà chính tiền đình:
a/ Tầng 1 có 3 gian:
– Gian bên trái là phòng ngủ của Vương Chí Sình.
– Gian giữa: Nơi tiếp khách đến gặp cụ Đức do ông Vương Chí Sình phụ trách.
– Gian bên phải: Là phòng ngủ của vợ, con Vương Chí Sình.
b/Tầng 2:
– Nơi Vương Chí Sình tiếp khách.
II. TRUNG DINH:
- Bên phải:
– Tầng 1: Là bếp tiểu táo phục vụ khách là bà con họ hàng đến chơi.
– Tầng 2: Nơi để lương thực, thực phẩm.
- Bên trái:
Tầng 1 và 2 là nơi nghỉ của họ hàng khi đến chơi. Tầng 1 là của phụ nữ, tầng 2 là của nam giới.
- Nhà chính trung dinh:
- a) Tầng 1:
– Bên phải là phòng ngủ của vợ, con Vương Chí Chư.
– Bên trái: Là phòng ngủ của Vương Chí Chư (con trai thứ 3 của Vương Chính Đức)
– Gian giữa: Nơi để bàn thờ tổ tiên.
- b) Tầng 2:
– Nơi Vương Chính Đức tiếp khách đến chơi ăn nghỉ tại dinh.
III. HẬU DINH:
Là nơi ăn, ở sinh hoạt của Vương Chính Đức.
- Bên phải:
– Tầng 1: Bếp nấu ăn riêng cho Vương Chính Đức, phía trong là phòng khách của vợ con Vương Chính Đức.
– Tầng 2: Nơi cất giữ đồ dùng riêng của Vương Chính Đức.
2. Bên trái:
– Tầng 1: Là phòng ngủ của vợ Vương Chính Đức và các con chưa lập gia đình.
– Tầng 2: Là phòng ngủ của Vương Chính Đức.
3. Dãy nhà ngang trong cùng:
Nơi Vương Chính Đức hút thuốc phiện, tiếp khách đồng thời là phòng ăn riêng của ông.
NHÀ CÁNH BÊN TRÁI:Là nhà khách để bà con đến chơi ngủ lại qua đêm.
NHÀ CÁNH BÊN PHẢI:Là bếp nấu ăn phục vụ mọi người trong dinh thự.
Trước khi qua đời Vương Chính Đức đã chia toà dinh thự này cho những người thừa kế như sau:
- Tiền dinh: Vương Quỳnh Sơn – Cháu đích tôn của ông.
- Trung dinh: Vương Chí Chư – Con trai thứ 3
- Hậu dinh: Vương Chí Sình – Con trai thứ 2

Việc phân chia thừa kế này có sự chứng giám của các đầu dòng, đầu họ người H’Mông; và được xã hội người H Mông thừa nhận cho đến ngày nay. Kỷ vật còn lại gắn với cuộc đời của Vương Chính Đức đó là:
-Tấm phản đặt tại hậu dinh là nơi ông hút thuốc phiện cùng với khách.
-Bể nước đục bằng khối đá để đựng nước phục vụ sinh hoạt của ông.
-Con hổ đúc bằng đồng nặng 15kg đặt tại nơi ông nằm hút thuốc phiện (con hổ hiện nay đang cất giữ tại Hà Nội).
Năm 1947 Vương Chính Đức qua đời thọ 80 tuổi, bác Hồ đã cử ông Mai Trung Lâm, ông Hoàng Đức Thắng từ chiến khu Việt Bắc lên Sà Phìn cùng con, cháu của ông, chôn cất ông trong một khu lăng mộ đá được xây trên đỉnh núi La Gia Động cách Sà Phìn 3km. Với tài năng và đức độ của mình, Vương Chính Đức đã được các dòng họ người H’mong trên dải biên giới Việt – Trung suy tôn làm thủ lĩnh của họ. Sau khi ông mất, Vương Chí Sình là người kế tục sự nghiệp của ông.